Nhằm mục đích mở rộng nguồn vốn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và gia tăng tỷ lệ sở hữu tại doanh nghiệp, nhiều nhà đầu tư lựa chọn sử dụng lợi nhuận sau thuế chưa phân phối để tái đầu tư, tăng vốn góp hoặc tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp. Hình thức tăng vốn từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối này giúp nhà đầu tư gia tăng quyền sở hữu mà không cần phát sinh dòng tiền góp vốn mới, đồng thời đặt ra các vấn đề pháp lý liên quan đến pháp luật doanh nghiệp, đầu tư, thuế và quản lý ngoại hối. Lexsol cung cấp dịch vụ tư vấn toàn diện cho nhà đầu tư và doanh nghiệp về điều kiện, trình tự thủ tục tăng vốn từ lợi nhuận chưa phân phối, cũng như các nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ thuế cần tuân thủ trong quá trình thực hiện.
Lợi nhuận chưa phân phối (còn gọi là lợi nhuận sau thuế chưa phân phối) là khoản lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật, nhưng chưa được phân chia cho chủ sở hữu, thành viên góp vốn hoặc cổ đông. Khoản lợi nhuận này được phản ánh trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp và là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh lũy kế của doanh nghiệp tại từng thời điểm kế toán.
Thông qua số liệu về lợi nhuận chưa phân phối, chủ sở hữu, thành viên góp vốn, cổ đông cũng như các bên liên quan có thể đánh giá tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm việc doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay lỗ trong kỳ tài chính, cũng như mức độ tích lũy nội bộ của doanh nghiệp.
Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, lợi nhuận chỉ được sử dụng để phân chia cho chủ sở hữu, thành viên góp vốn hoặc cổ đông của công ty khi doanh nghiệp đã: (i) hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; và (ii) bảo đảm khả năng thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn khác sau khi thực hiện việc chia lợi nhuận. Trường hợp không đáp ứng các điều kiện này, doanh nghiệp không được phép phân chia lợi nhuận.
Thời điểm phân chia lợi nhuận được thực hiện theo quy định tại Điều lệ của công ty hoặc theo Quyết định của chủ sở hữu công ty TNHH MTV (điểm l khoản 1 Điều 76 Luật Doanh nghiệp), Quyết định của Hội đồng thành viên công ty TNHH HTV (điểm g khoản 2 Điều 55 Luật Doanh nghiệp), hoặc Quyết định của Hội đồng quản trị (điểm o khoan 2 Điều 153 Luật Doanh nghiệp).
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp: Việc tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp có thể được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau, bao gồm: (i) tăng vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn; (ii) chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên góp thêm vốn; hoặc (iii) chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu đối với công ty cổ phần (khoản 1 Điều 68, khoản 1, 2 Điều 87 và khoản 1 Điều 124 Luật Doanh nghiệp).
Đáng lưu ý, pháp luật doanh nghiệp hiện hành không quy định cụ thể cũng như không giới hạn hình thức tài sản hoặc nguồn hình thành phần vốn góp tăng thêm, miễn là việc tăng vốn được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục luật định. Trên cơ sở đó, việc doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận chưa phân phối để tăng vốn điều lệ, thông qua hình thức chuyển đổi lợi nhuận chưa phân phối thành phần vốn góp hoặc cổ phần bổ sung cho chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông, là phù hợp với các quy định của pháp luật doanh nghiệp.
Nói cách khác, mặc dù Luật Doanh nghiệp không trực tiếp quy định “tăng vốn điều lệ từ lợi nhuận chưa phân phối” như một hình thức độc lập, nhưng cơ chế tăng vốn dựa trên lợi nhuận chưa phân phối hoàn toàn có thể được thực hiện hợp pháp thông qua các hình thức tăng vốn điều lệ đã được luật ghi nhận, và không bị coi là hành vi trái pháp luật.
Theo quy định của pháp luật thuế: Pháp luật đã thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của hình thức chuyển hóa lợi nhuận thành vốn thông qua việc doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận chưa phân phối để tăng vốn điều lệ. Theo đó, pháp luật thuế ghi nhận thu nhập từ lợi tức ghi tăng vốn hay nhận cổ tức từ cổ phiếu là một khoản thu nhập từ đầu tư vốn và chịu thuế TNCN (Điều 2.3.g Thông tư 111/2013/TT–BTC). Tuy nhiên, thời điểm xác định thu nhập từ đầu tư vốn lại không phải là thời điểm công ty ghi tăng vốn bằng lợi tức hay trả cổ tức bằng cổ phiếu, mà là thời điểm cá nhân chuyển nhượng vốn, rút vốn hoặc từ thời điểm cá nhân chuyển nhượng cổ phiếu (Điều 10.3 b, c Thông tư 111/2013/TT–BTC). Nói cách khác, cá nhân nhận cổ tức bằng cổ phiếu, lợi tức ghi tăng vốn chưa phải khai và nộp thuế đầu tư vốn khi nhận. Khi chuyển nhượng vốn, rút vốn, giải thể doanh nghiệp cá nhân khai và nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn và thu nhập từ đầu tư vốn. (Điều 26.9 Thông tư 111/2013/TT–BTC). Đồng thời, tổ chức nơi cá nhân có vốn góp/nơi cá nhân là cổ đông nhận thưởng từ chứng khoán có trách nhiệm khai thuế thay, nộp thuế thay đối với thu nhập từ đầu tư vốn khi cá nhân chuyển nhượng vốn/chuyển nhượng chứng khoán, rút vốn (Điều 7.5.d Nghị định 126/2020/NĐ-CP).
Rủi ro vi phạm về tuân thủ trên thực tế: Việc chuyển lợi nhuận sau thuế chưa phân phối thành vốn góp hoặc cổ phần của cá nhân tiềm ẩn rủi ro lớn về thuế nếu người nộp thuế hoặc doanh nghiệp nhầm lẫn bản chất khoản thu nhập và thời điểm xác định nghĩa vụ thuế. Cụ thể, không ít trường hợp cho rằng việc lợi nhuận được ghi tăng vốn hoặc chuyển hóa thành cổ phiếu thưởng chỉ làm gia tăng vốn góp, không làm phát sinh thu nhập chịu thuế, từ đó không theo dõi, kê khai hoặc lưu vết nghĩa vụ thuế tương ứng, dẫn đến vi phạm pháp luật về thuế.
Như vậy, mặc dù Luật Doanh nghiệp không quy định cụ thể hình thức tăng vốn điều lệ thông qua việc chuyển lợi nhuận chưa phân phối thành vốn góp hoặc cổ phần, nhưng pháp luật thuế đã gián tiếp ghi nhận và điều chỉnh hình thức này thông qua việc xác định bản chất thu nhập, thời điểm phát sinh nghĩa vụ thuế và cơ chế kê khai, nộp thuế tương ứng. Người nộp thuế cần chú ý để tránh các vi phạm về thuế.

Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ chế tăng vốn từ lợi nhuận chưa phân phối nêu trên về mặt bản chất không thay đổi, song cách thức thực hiện lại chịu sự điều chỉnh chặt chẽ hơn của pháp luật về đầu tư và quản lý ngoại hối. Theo đó, việc nhà đầu tư nước ngoài sử dụng phần lợi nhuận được chia hoặc lợi nhuận thuộc quyền hưởng của mình để góp thêm vốn vào doanh nghiệp phải được thực hiện thông qua Tài khoản vốn đầu tư tại Việt Nam (“Tài Khoản Vốn”) theo quy định của Luật Đầu tư và pháp luật về quản lý ngoại hối.
Theo đó, việc nhà đầu tư nước ngoài góp vốn vào công ty được thực hiện theo quy định Điều 24 Luật Đầu tư. Các hình thức góp vốn, mua cổ phần theo khoản 1 Điều 25 Luật Đầu tư gồm: (i) Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần; (ii) Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; (iii) Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại các điểm vừa nêu.
Đối với việc góp vốn đối với Nhà đầu tư nước ngoài, việc góp vốn phải thông qua Tài Khoản Vốn (khoản 2 Điều 65 Luật Đầu tư). Như vậy, để Nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn thì cần chuyển lợi nhuận/lợi tức vào Tài Khoản Vốn tương ứng.
Rủi ro pháp lý về tuân thủ trên thực tế: Pháp luật doanh nghiệp không cấm doanh nghiệp tăng vốn từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối; pháp luật thuế thừa nhận lợi nhuận ghi tăng vốn là thu nhập từ đầu tư vốn nhưng được hoãn thời điểm đánh thuế; pháp luật về đầu tư không cấm việc nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện góp vốn, mua cổ phần tại Việt Nam thông qua lợi tức/lợi nhuận; tuy nhiên pháp luật quản lý ngoại hối, đặc biệt là quy định về Tài Khoản Vốn tại Thông tư 03/2025/TT-NHNN, lại chủ yếu điều chỉnh các giao dịch có phát sinh dòng tiền thực tế. (có thực hiện giao dịch thu – chi qua Tài Khoản Vốn). Như vậy, việc chuyển lợi nhuận từ tài khoản thanh toán vào Tài Khoản Vốn và ghi nhận việc góp vốn của Nhà đầu tư hiện nay chưa có quy trình thống nhất, khi thực hiện có tiềm ẩn rủi ro pháp lý. Do đó, Doanh nghiệp cần liên hệ ngân hàng nơi mở Tài Khoản Vốn để tham khảo ý kiến và tuân thủ thủ tục nội bộ ngân hàng trước khi thực hiện thủ tục tăng vốn tại Sở Tài chính.
Như vậy, nhà đầu tư nước ngoài hiện nay có thể thực góp vốn thông qua lợi tức/lợi nhuận nhưng cần phải tham khảo ý kiến và tuân thủ thủ tục nội bộ của ngân hàng quản lý Tài Khoản Vốn để tránh vi phạm pháp luật quản lý ngoại hối.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 30 và khoản 4 Điều 28 Luật Doanh nghiệp, Doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh khi thay đổi vốn điều lệ của công ty trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi. Cụ thể:
“Điều 30. Đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
1. Doanh nghiệp phải đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh khi thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 28 của Luật này.
2. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi.
Như vậy, chủ sở hữu/thành viên góp vốn/cổ đông phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh để điều chỉnh Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong vòng 10 ngày kể từ ngày hoàn tất việc dùng lợi nhuận chưa phân phối để tăng vốn.
Trên đây là quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến quy trình chuyển lợi nhuận thành vốn góp và nghĩa vụ mà các nhà đầu tư/doanh nghiệp khi thực cần phải lưu ý và tuân thủ đầy đủ.
Liên hệ Lexsol để được tư vấn chi tiết:
Website: https://lexsolasia.com/vi/
Email: info@lexsolasia.com
Hotline: 035 981 9008
Lexsol là đội ngũ luật sư trẻ trung, năng động với hơn 10 năm kinh nghiệm trong việc tư vấn và giải quyết các vấn đề pháp lý cho cả doanh nghiệp trong nước và quốc tế.
Điền thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ tư vấn chi tiết cho bạn trong vòng 24h.