Theo Luật Doanh Nghiệp năm 2020, quyền thành viên không tương ứng trực tiếp với tỷ lệ vốn đầu tư. Đối với nhà đầu tư nước ngoài nắm 65% vốn điều lệ tại công ty TNHH, liệu họ có được nắm toàn quyền kiểm soát công ty TNHH.
1.1. Tham dự họp Hội đồng thành viên, thảo luận, kiến nghị, biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên;
1.2. Có số phiếu biểu quyết tương ứng với phần vốn góp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 của Luật này;
1.3. Được chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp sau khi công ty đã nộp đủ thuế và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;
1.4. Được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản;
1.5. Được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ;
1.6. Định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ, tặng cho và hình thức khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;
1.7. Tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và người quản lý khác;
1.8. Quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Quyền hạn của thành viên giữ 65% vốn điều lệ trong công ty TNHH có tác động trực tiếp đến việc tổ chức cuộc họp Hội đồng thành viên và kết quả thông qua nghị quyết, quyết định Hội đồng thành viên theo Điều 58, Điều 59 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
2.1.1. Cuộc họp Hội đồng thành viên được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu từ 65% vốn điều lệ trở lên;
2.1.2. Trường hợp cuộc họp Hội đồng thành viên lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo mục 2.1.1 và Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc triệu tập họp Hội đồng thành viên được thực hiện như sau:
a. Thông báo mời họp lần thứ hai phải được gửi trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ nhất. Cuộc họp Hội đồng thành viên lần thứ hai được tiến hành khi có số thành viên dự họp sở hữu từ 50% vốn điều lệ trở lên;
b. Trường hợp cuộc họp Hội đồng thành viên lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại điểm a khoản này, thông báo mời họp lần thứ ba phải được gửi trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ hai. Cuộc họp Hội đồng thành viên lần thứ ba được tiến hành không phụ thuộc số thành viên dự họp và số vốn điều lệ được đại diện bởi số thành viên dự họp.
Như vậy, thành viên giữ 65% vốn điều lệ trong công ty TNHH có quyền lựa chọn tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên, quyền này cho phép họ tạm thời ngăn chặn ý kiến của thành viên thiểu số giữ dưới 35% vốn điều lệ. Tuy nhiên, lợi thế này chỉ có tính chất tạm thời. Việc vắng mặt chỉ kéo dài quá trình triệu tập mà không thể ngăn cản cuộc họp. Khi cuộc họp diễn ra lần thứ ba, cuộc họp sẽ tiến hành bất kể thành viên giữ 65% vốn điều lệ có tham dự hay không. Quy định này bảo vệ quyền lợi của thành viên thiểu số và ngăn chặn việc một thành viên lớn nhất lạm dụng quyền lực để vô thời hạn trì hoãn các quyết định của công ty.
2.2.1. Thành viên dự họp sở hữu từ 65% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp trở lên tán thành, trừ mục 2.2.2;
2.2.2. Các thành viên dự họp sở hữu từ 75% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp trở lên tán thành đối với nghị quyết, quyết định bán tài sản có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; tổ chức lại, giải thể công ty.
Như vậy, thành viên giữ 65% vốn điều lệ không đủ quyền lực để tự mình thông qua những vấn đề quan trọng tại mục 2.2.2. Họ cần phải có sự ủng hộ từ những Thành viên khác để đạt ngưỡng 75%. Điều này có nghĩa là Thành viên thiểu số sở hữu 25% vốn trở lên có khả năng chặn những quyết định do Thành viên 65% vốn điều lệ khởi xướng. Cơ chế này tạo ra sự cân bằng quyền lực trong công ty và bảo vệ quyền lợi của tất cả Thành viên.

Ngoài các quyền tại mục 1, thành viên, nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên có các quyền quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2020 như sau:
3.1. Yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền;
3.2. Kiểm tra, xem xét, tra cứu sổ ghi chép và theo dõi các giao dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm;
3.3. Kiểm tra, xem xét, tra cứu và sao chụp sổ đăng ký thành viên, biên bản họp, nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên và tài liệu khác của công ty;
3.4. Yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết, quyết định đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Quyền thiểu số tạo ra cơ chế cân bằng quyền lực trong công ty TNHH. Pháp luật cấp cho thành viên thiểu số những công cụ ngăn chặn lạm dụng quyền lực của thành viên sở hữu vốn nhiều. Thông qua quyền kiểm soát, yêu cầu minh bạch và khiếu nại, pháp luật bảo vệ quyền lợi của tất cả Thành viên. Kết quả là mọi thành viên, dù nắm giữ bao nhiêu vốn, đều có cơ hội công bằng để bảo vệ lợi ích đầu tư của mình.
Lexsol khuyến nghị doanh nghiệp các vấn đề sau đây:
4.1. Nắm vững những hạn chế pháp luật về quyền kiểm soát khi nắm 65% vốn Điều lệ.
4.2. Thực hiện kiểm tra pháp luật toàn diện trước khi đầu tư.
4.3. Xây dựng chiến lược bảo vệ quyền lợi của các thành viên dựa trên thực tế pháp luật tại Việt Nam.
4.4. Tìm kiếm tư vấn từ chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm về luật doanh nghiệp Việt Nam.
4.5. Nhà đầu tư nước ngoài nên xem xét đến việc thoả thuận và soạn thảo điều lệ để bảo vệ quyền lợi của nhóm Nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp nhóm Nhà đầu tư nước ngoài là bên bỏ vốn và điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty.
Xem thêm: Tư Vấn Pháp Lý Về Đầu Tư Nước Ngoài Tại Việt Nam
Dựa vào những quy định pháp luật trên, thành viên nắm 65% vốn điều lệ không thể nắm toàn quyền kiểm soát tuyệt đối công ty TNHH mà chỉ có quyền trong một số vấn đề nhất định. Điều đáng chú ý là ngay cả những trường hợp thành viên giữ 65% vốn điều lệ không có đủ điều kiện để chính thức phát động và thông qua, họ vẫn nắm giữ một quyền lực đặc biệt. Khi Thành viên thiểu số (dưới 35% vốn điều lệ) đưa ra một đề xuất, nếu thành viên giữ 65% vốn điều lệ bất đồng, quyết định đó sẽ bị dừng lại, không thể được chính thức thông qua.
Chính đây là điểm mạnh của thành viên giữ 65% vốn điều lệ - không phải quyền chủ động thúc đẩy, mà là quyền ngăn chặn. Họ có khả năng từ chối bất kỳ đề xuất nào tại Hội đồng thành viên, tạo thành một cơ chế bảo vệ quyền lợi của riêng mình.
Nếu Quý khách hàng còn thắc mắc, xin vui lòng liên hệ Lexsol để được cung cấp tư vấn pháp lý chuyên sâu.
Lexsol là đội ngũ luật sư trẻ trung, năng động với hơn 10 năm kinh nghiệm trong việc tư vấn và giải quyết các vấn đề pháp lý cho cả doanh nghiệp trong nước và quốc tế.
Điền thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ tư vấn chi tiết cho bạn trong vòng 24h.